Theo bản tin cập nhật thị trường lao động quý 2/2018 Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (LĐ-TB-XH) vừa công bố, cả nước hiện có 126.900 người trình độ đại học và trên Đại học thất nghiệp. Con số này ở mức khá cao và khiến dư luận trăn trở. Đáng chú ý, theo báo cáo của các tập đoàn xe ôm công nghệ, có 80% sinh viên, cử nhân ra trường hiện đang chạy xe cho Uber, Grab. Số liệu của Grab cung cấp cho biết, hiện tại có gần 1 triệu đối tác tài xế (hơn 930.000 người) đang dựa vào nền tảng Grab để tạo thu nhập cho gia đình.

 

  1. Giáo dục đào tạo đang có vấn đề

Tư duy và cách làm giáo dục chưa theo kịp thời đại

– Chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức, mang nặng tính nhồi nhét; Quá coi trong bằng cấp và kết quả thi cử mà chưa chú trọng đến năng lực và phẩm chất của người học. Cách tổ chức thi hiện nay phần lớn mới chỉ dừng lại việc đánh giá nhận thức sách vở của người học.

– Nền giáo dục bị khép kín trong nhà trường và chủ yếu dựa trên sự tương tác giữa thầy và trò trong phạm vi của sách giáo khoa, thiếu sự tương tác với xã hội. Vai trò của gia đình, đoàn thể và xã hội ngày một mờ nhạt trong giáo dục thế hệ trẻ.

– Chạy theo việc mở trường  và nâng cấp các trường Đại học, Cao đẳng làm cho giữa quy mô đào tạo và chất lượng đào tạo không tương xứng. Bản thân các trường chạy theo mục tiêu trước mắt, thường tranh thủ mở rộng qui mô mà quên đi chất lượng dẫn đến bộ máy quản lý cồng kềnh gây lãng phí, hiệu quả đầu tư kém.

Chất lượng  giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế

– Ở bậc học phổ thông: vì quá tham vọng về trang bị kiến thức nên chương trình giáo dục mang nặng tính lý thuyết sách vở, không phù hợp với tâm sinh lý, khả năng tiếp thu của người học đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở; nên đã gây ra một số hệ lụy:

Vì chương trình quá rộng và quá nặng cùng với chế độ thi cử nặng nề, cộng thêm bệnh thành tích và cách quản lý theo kiểu chỉ cầm tay chỉ việc; đã gây áp lực rất lớn cho thầy và trò. Chế độ làm việc của giáo viên qúa căng thẳng, dạy và học ở trường không đủ phải tranh thủ dạy và học thêm một cách tràn lan. Học sinh hầu như không còn thời gian để tự tư duy và tìm hiểu kiến thức, nhiều em do áp lực quá lớn của khối lượng kiến thức nên chỉ còn một cách duy nhất là học thuộc lòng để đi thi. Tình trạng này tạo thành thói quen không tốt cho người học không chỉ diễn ra ở bậc phổ thông mà thói quen này đã len lỏi vào các trường Đại học và đào tạo nghề

Tình trạng học đối phó ngày càng phát triển biến thành con bệnh mãn tính rất khó chữa, nó gây ra những tác hại vô cùng lớn đối với thế hệ trẻ không những khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn thâm nhập vào cuộc sống của các em sau này, nó len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, sinh hoạt làm băng hoại đạo đức và hiệu quả của công việc từ nhỏ đến lớn. Một khi đã trở thành thói quen thì thật nguy hiểm mà mọi người không nhận biết ra được mức tác hại của nó

Với tư duy và cách làm giáo dục như vậy, nền giáo dục của chúng ta thay vì tạo ra những con người năng động biết phát hiện ra những vấn đề nảy sinh ra trong công việc chuyên môn hoặc trong đời sống hàng ngày, biết phân tích và giải quyết vấn đề để thúc đẩy công việc tốt lên thì giáo dục của chúng ta đang tạo ra không ít những con người vừa vô cảm và nhạy cảm với “tư duy kiểu nhà nông” – rất nhạy cảm với lợi ích trước mắt của bản thân và tập thể nhỏ nhưng thiếu quan tâm đến lợi ích lâu dài của đất nước. Giáo dục chưa làm được chức năng là “đào tạo con người” một cách đích thực.

Một hệ quả mà chúng ta không lường được là với chương trình học nhồi nhét và thi cử nặng nề đã lấy đi tuổi thơ của thế hệ trẻ và tác động không nhỏ đến sức khỏe, thể chất của học sinh làm ảnh hưởng lâu dài đến khả năng thái độ làm việc của các em sau này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho năng xuất lao động của người Việt gần như thấp nhất trong khu vực.

  1. Định hướng sai nghề nghiệp

Đa số đều định hướng nghề nghiệp không phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước và thế giới. Hiện nay, khoa học kỹ thuật trên thế giới đang phát triển như vũ bão, thế giới đang thay đổi đến chóng mặt, nhưng nhiều em không được định hướng nghề nghiệp một cách rõ ràng, thực tế chỉ ra là nhiều em thấy bạn đi học Đại học cũng đi học Đại học, không cần biết là sau này ra trường làm gì và ở đâu. Điều này, tạo nên một sự lãng phí quá lớn đối với kinh tế gia đình và rộng hơn là kinh tế đất nước.

  1. Sinh viên mờ nhạt về lý tưởng

Tình hình hiện nay là việc học, tu dưỡng ở các trường Đại học, Cao đẳng trong nước đang có vấn đề. Sinh viên mờ nhạt về lý tưởng, không có sự phấn đấu, chỉ lo lắng về đời sống.

Số sinh viên thực sự chăm học, tự rèn luyện tu dưỡng thì không nhiều, có trường chỉ dưới 10 %. Ở Việt Nam, ai cũng nói học phổ thông, nhất là lớp 12 thì quá căng thẳng, còn học Đại học là “nghỉ ngơi”. Nhưng ở trên thế giới thì ngược lại. Đơn giản như thư viện của trường Đại học ở nhiều nước là mở suốt ngày đêm, kể cả ngày lễ. Còn ở Việt Nam thư viện ít hoặc rất sơ sài, ít đầu sách và ít người đọc. Cụ thể như sau:

Thứ nhất là không ít sinh viên có nhiều thú vui hơn là trau dồi học tập, chuyên môn, chỉ có 20 – 30% sinh viên tham gia các hoạt động xã hội gồm công tác Đoàn, công tác thanh niên và sinh viên. Tự hỏi là có bao nhiêu phần trăm sinh viên tham gia công tác hè. Có nhiều trường trả lời, sinh viên của họ chỉ tối đa 30% tham gia trong khi con số này ở các nước tư bản là 80% – 90%.

Thứ hai là khi tốt nghiệp ra trường, họ không muốn đi công tác ở nơi khác, nơi xa… Có hàng mấy trăm người cầm tấm bằng Đại học, nhưng lại làm mấy nghề thủ công, đơn giản hay lao động nặng nhọc ở thành phố, trong khi các miền khác thì thiếu trầm trọng…

Thứ ba là 50 % lao động ở tất cả các cấp bậc, bằng cấp không yên tâm, thỏa mãn với những việc mình đang làm, đều muốn “nhấp nhổm”. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam nghiên cứu rằng, 50 % giáo viên ân hận là đã chọn nghề này và nếu có điều kiện lựa chọn nghề khác thì họ không bao giờ quay lại.

  1. Sinh viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng

Bức xúc vì kỹ năng của sinh viên

Nhiều nhà tuyển dụng cho rằng, đối với sinh viên vừa ra trường, họ đòi hỏi không cao về kinh nghiệm làm việc. Yêu cầu lớn nhất là ứng viên phải có các kỹ năng cơ bản để vào làm việc và hòa nhập với văn hóa ở doanh nghiệp thì sinh viên lại rất yếu. Không chỉ các kỹ năng liên quan đến công việc mà các kỹ năng về ứng xử, giao tiếp và thái độ sống của sinh viên cũng bị nhiều doanh nghiệp than phiền. Sinh viên thường bộc lộ sự nóng vội, muốn thấy được kết quả nhanh nên thiếu sự tích cực trong việc tiếp thu, lắng nghe cũng như thiếu sự cam kết gắn bó lâu dài với công việc.

Trình độ ngoại ngữ ở mức đọc, viết nhưng không nói được

Trình độ ngoại ngữ chung của sinh viên hiện nay là các bạn có thể đọc, viết nhưng không nói và trao đổi được. Nhiều doanh nghiệp có nhiều chương trình, hội thảo ở nước ngoài nhưng rất khó trong việc tìm người đi tham dự vì yếu kém ngoại ngữ.

Doanh nghiệp trong nước đã vậy, các công ty, tập đoàn nước ngoài với các yêu cầu cao hơn thì lời than phiền về sinh viên còn nhiều “nặng” hơn về ngoại ngữ, làm việc nhóm, tính kỷ luật, tinh thần chịu trách nhiệm, bày tỏ ý kiến… Thậm chí, có những doanh nghiệp nước ngoài còn dùng từ bất mãn với các cử nhân Đại học của Việt Nam vì những hạn chế đó dễ dẫn đến những hậu quả tệ hại cho công việc.

Điều này ám ảnh các doanh nghiệp nước ngoài đến đến mức trong nhiều hội thảo về nguồn nhân lực, không ít doanh nhân ngoại quốc đã xin lỗi trước khi đưa ra nhận xét về sinh viên Việt Nam vì “khi chúng tôi nói ra những lời góp ý chân thành này các bạn sẽ giận và bị tổn thương”.

Cho con đèn sách mười mấy năm trời và nhận được kết quả đào tạo như vậy, nhiều cử nhân, thạc sĩ, làm xe ôm, công nhân, bán cám, còn tiến sỹ thì ngồi chờ bố mẹ xin việc trong cơ quan nhà nước với lương mấy triệu đồng. Không ít phụ huynh phải thốt lên những lời xót xa, có những người hối hận vì đã cho con đi học Đại học.

One thought on “Phụ huynh sẽ “đau nghẹn lòng” với kết quả những năm đèn sách của con mình

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Call Now Button